GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BÌNH ĐỊNH

Tiểu sử Trưởng lão Thích Giác Tịnh 1928-2008

Đức Trưởng lão Thích Giác Tịnh, thế danh Huỳnh Văn Sường sinh năm Mậu Thìn (1928) tại huyện Tân An, tỉnh Long An. Thân phụ là Huỳnh Văn Hơn và Thân mẫu là Nguyễn Thị Mau. Ngài là con thứ 3 trong gia đình gồm 3 trai và 1 gái.

Năm 1947, Ngài gặp Tổ Sư Minh Đăng Quang trì bình khất thực tại tỉnh Long An. Hình bóng trang nghiêm giải thoát của Tổ sư đã in sâu trong tâm trí và khơi dậy chí nguyện xuất gia trong tâm Ngài. Mặc dù gia đình ngăn cản nhưng chí đã quyết nên cha mẹ đành phải chấp thuận cho Ngài xuất gia vào năm 1948, được Đức Tổ sư ban cho pháp danh là Thích Giác Tịnh. Sau 3 năm theo hầu Tổ và tu học, Ngài thọ Đại giới vào năm 1951. Từ đó, Ngài luôn luôn theo Tổ hành đạo.

Sau ngày Tổ sư vắng bóng, Mồng 1 tháng 2 năm Giáp Ngọ (1954) đến tháng 8 Âm lịch cùng năm, với tam Y nhất Bát, Ngài cùng Đoàn Du Tăng hành đạo khắp nơi. Năm 1956, Đoàn Du Tăng Khất sĩ ra hành đạo miền Trung.

Cuối năm 1957 Bà Nguyễn Thị Tám phát tâm cúng dường đất xây dựng Tịnh xá Ngọc Nhơn. Ngài cung thỉnh Đức Trưởng lão Thích Giác Tánh làm Chứng minh Đạo sư trong Giáo đoàn và cho bắt đầu xây dựng ngôi tịnh xá đến năm 1958 công trình được hoàn thành. Đó là ngôi Đạo tràng Tịnh xá đầu tiên của Giáo đoàn II tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Thời gian này Ngài cùng Đức Trưởng lão Thích Giác Tánh hành đạo miền Trung và Cao nguyên. Tịnh xá Ngọc Hội thuộc thị trấn Bồng Sơn, tỉnh Bình Định là Ngôi Đạo tràng thứ 2 được xây dựng vào năm 1959. Tiếp theo đó các ngôi Tịnh xá khác lần lược được kiến tạo, từ thành phố Sài Gòn, Gia Định lên Cao nguyên ra tận Quảng Trị, Đông Hà, Ngài thâu nhận rất nhiều vị đệ tử xuất gia tu học và chứng minh Quy y Tam Bảo, truyền năm giới pháp cho rất nhiều nam nữ cư sĩ tại gia.

Theo gương hạnh của Đức Tổ sư, Ngài dạy chư Đệ tử xuất gia hành hạnh Tứ Y Pháp, tham thiền, nghiên cứu Kinh, Luật, Luận, lấy Bộ Chơn lý của Đức Tổ sư làm tiêu chí để tu học và hướng dẫn tứ chúng y theo hành trì. Ngài tu tập rất miên mật, từ việc làm, lời nói, cử động đều khoan thai, làm chủ trong tất cả oai nghi. Từ khi thọ Y Bát từ Đức Tổ sư, dù có nghịch cảnh gì đi nữa Ngài cũng không bao giờ rời Y Bát. Đời sống Ngài rất giản dị, thanh bần. Ngài được Đức Tổ sư giao trọng trách hướng dẫn những vị xuất gia sau này.

Với chí nguyện hoằng hóa độ sanh, Ngài không ngại gian khó đi khắp nơi hoằng dương chánh pháp, bằng hạnh trì bình khất thực, tham thiền, giảng dạy Tăng chúng và Phật tử tu học nối tiếp sự nghiệp của Tổ sư. Ngài thường dạy và nhấn mạnh về Thất Giác Chi. Đặc biệt là chi phần thứ năm “Nhớ tưởng đạo lý” và thứ sáu là “Nhất tâm đại định”.

Đức Thầy là người có nghị lực nhẫn nhục phi thường, khi gặp những nghịch duyên Ngài thầm lặng chịu đựng vượt qua không một lời than trách. Như có lần Ngài thọ trai trong công viên thành phố Đà Nẵng, kiến đỏ bò vào bình bát, rồi bò lên mắt Ngài thành từng hàng, nhưng Ngài vẫn ngồi yên bất động. Suốt cuộc đời hành đạo, trước những lời khen chê, Ngài vẫn an nhiên tự tại. Đặc biệt là không bao giờ nói điều hay, điều dỡ của bất cứ ai dù đạo hay đời.

Về kiến tạo Đạo tràng, Ngài từng dạy chư Tăng đệ tử “Từ khi Đức Phật nhập Niết Bàn, muốn xây dựng nơi thờ phụng thì phải làm cho thật cao và tượng Phật phải thật lớn” chính từ tâm nguyện đó mà các Tịnh xá trong Giáo đoàn do Ngài chỉ đạo xây dựng đều làm cao rộng và tôn trí tượng Phật lớn.

Năm 1969 Đức Thầy trở về tu tịnh tại Tịnh xá Ngọc Nhơn, Trưởng lão Thích Giác Tánh quản lý Tăng Đoàn.

Năm 1978 Trưởng lão Thích Giác Tánh viên tịch, Ngài giao quyền Trưởng đoàn cho Trưởng lão Thích Giác Định. Từ đó Ngài tịnh dưỡng tại Tịnh xá Ngọc Nhơn. Chư Tăng trong đoàn muốn đi tu núi thì Ngài dạy “Qúy sư đi tu ở đâu cũng là đất nước cỏ cây, không gì hơn và tu là niệm niệm không mê, chính tâm mình là đạo”.

Năm 1995 Ngài khởi công xây dựng lại Tịnh xá Ngọc Nhơn hoàn thành vào năm 2002.

Năm 2000 Ngài thọ bệnh. Thân tuy có bệnh nhưng trí tuệ vô cùng minh mẫn, Ngài tâm nguyện làm xong Nhà Cửu huyền để có chỗ thờ phụng chư hương linh bá tánh mới mãn nguyện. Do đó, chư Tăng và Phật tử trong Giáo đoàn nỗ lực xây dựng hoàn thành nhà Cửu huyền và tôn trí thờ tự trang nghiêm vào ngày 19/2/ Mậu Tý (2008).

Khi có Tăng Ni và Phật tử đến thăm viếng, vấn an, Ngài chỉ nói “Tôi già rồi, thân tứ đại đến lúc phải tan rã. Qúy sư hãy tinh tấn tu tập để giải thoát”. Trước khi viên tịch Đức Thầy nói như nhắn gửi “Tôi sắp đi rồi.” Thuận theo qui luật vô thường sinh diệt, sức khỏe Đức Thầy ngày càng yếu dần, Môn đồ pháp quyến luôn túc trực bên Ngài, thấy hơi thở Ngài yếu đồng đến hộ niệm trước 20 phút, gương mặt Ngài bình thản, hơi thở nhẹ dần rồi an nhiên thị tịch vào lúc 17g00’ ngày 20 tháng 5 năm Mậu Tý nhằm ngày 23/6/2008.  Trụ thế 81 năm, Hạ lạp 57 năm.

Sau khi trà tỳ, Xá lợi của Ngài thu được rất nhiều, chia ra làm 3 phần để tôn thờ 3 nơi: 1.Tháp Phổ Chơn tại Tịnh xá Ngọc Nhơn, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định; 2.Tháp Phổ Hạnh tại Tịnh xá Tịnh xá Ngọc Trang, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; 3.Tháp Phổ Giác tại Tịnh xá Ngọc Đăng, Tp. HCM.

Lên đầu trang