GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỈNH BÌNH ĐỊNH

Vô ngã tiến trình giải thoát của hành giả học Phật

VÔ  NGÃ TIẾN TRÌNH GIẢI THOÁT CỦA HÀNH GIẢ HỌC PHẬT

Thích Nữ Nhuận Thành

 

DẪN NHẬP

  1. Giới Thiệu Đề Tài.

Hơn 2500 năm trước, một Vĩ nhân xuất hiện trên đời, trong bối cảnh Ấn Độ đang đắm chìm trong sáu mươi hai học thuyết ngoại đạo chấp thủ ngã và ngã sở, bị vây bủa bởi chiều dày lịch sử phân chia giai cấp, nhân loại khổ đau, nhưng không tìm ra lối thoát. Sự xuất hiện của Ngài như vầng dương toả rạng, phá tan mọi tối tăm của màng mây vô minh trong đêm dài bất tận. Ngài đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại, giải phóng con người thoát khỏi khổ đau mà người dân Ấn Độ đã từ lâu phải cam tâm gánh chịu. Đó chính là Đức giáo chủ Gotama. Ngài xuất hiện trên thế gian này chỉ vì lợi ích cho đời, vì hạnh phúc an lạc cho chư thiên và loài người. Chính vì lòng thương tưởng cho đời, mà trong suốt 49 năm hoằng truyền giáo pháp, mục đích duy nhất là để cứu vớt chúng sanh thoát khỏi bể khổ sanh tử luân hồi, đạt đến niết bàn Thường - Lạc -  Ngã – Tịnh.

Trong Khế kinh nói: “Nước trong đại dương tuy mênh mông vô cùng tận, nhưng đều bắt đầu từ nguồn, nước trăm sông đều đổ về biển cả và thuần một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, giáo pháp của Phật tuy có tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng duy nhứt có chung một vị, đó là vị giải thoát”. Thế nhưng, điều mà chúng ta cần quan tâm đó là ai giải thoát? Giải thoát bằng cách nào???

Một học giả người Đức, tiến sĩ Oldenburg đã nhận định:

“Đức Phật không giải thoát cho con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự mình giải thoát lấy mình như chính Ngài đã tự giải thoát Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này từ nơi Ngài, mà chính lòng xúc tín cá nhân thức tỉnh bởi những lời dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình.”(1)

Thật vậy, Đức Phật chỉ là bậc hướng đạo sư, Ngài vạch sẵn một con đường giác ngộ, còn bổn phận chúng ta là phải đi đúng con đường ấy. Ngài cũng khẳng định: “Chính ta làm cho ta trong sạch và cũng chính ta làm cho ta ô nhiễm.” 

Chỉ có con người mới đủ khả năng tự tạo cho mình hạnh phúc hay đau khổ, ngoài ra không có một năng lực sáng tạo nào từ bên ngoài có thể nắm giữ hay quyết định cho mình được. Chính vì con người là chủ nhân ông của vũ trụ, cho nên trên lộ trình tu tập để bước lên quả vị giải thoát, con người đóng vai trò then chốt trong việc Tu - Chứng. Do đó, hầu hết từ Nam truyền cho đến Bắc truyền Phật giáo, giáo lý Ngũ Uẩn được xem như một đề tài quan trọng nhất trong các kinh điển. Nói đến Ngũ Uẩn là nói đến Duyên Sinh Vô Ngã, bởi tất cả vũ trụ vạn hữu được hình thành trên nền tảng Duyên Sinh, một nguyên lý đích thực mà Đức Phật Gotama đã tự thân chứng nghiệm dưới cội bồ đề, để rồi từ đó Ngài đắc thành đạo quả.

Hành giả học Phật không gì ngoài mục đích đạt được cứu cánh Niết bàn, giáo lý vô Ngã là giáo lý độc đáo nhứt của Phật giáo, độc đáo nhứt trong lịch sử tôn giáo và tư tưởng của nhân loại, làm nền tảng trọng yếu để chúng ta hành trì tu tập, trên lộ trình tiến đến đạo quả giác ngộ giải thoát. Đây là một trong Tam pháp Ấn (ba dấu ấn chánh pháp) đã được Đức Thế Tôn xác quyết và ấn chứng, đó là: Chư hành Vô Thường, chư pháp thị Khổ, chư pháp Vô Ngã.

  1. Lý Do Chọn Đề Tài.

Giữa khi nhân loại vẫn còn chìm đắm trong cơn mê Ngã và Ngã sơ,ũ thì tiếng nói Duyên Sinh Vô Ngã của Đức Phật vẫn mãi là tiếng nói của sự giác ngộ giải thoát, là tiếng chuông thức tỉnh lòng người mau vượt khỏi khổ đau. Trong thời hiện đại, thế giới văn minh đầy dẫy những màu sắc cám dỗ, sự phát triển khoa học công nghệ thông tin hiện đại, công nghiệp hoá hiện đại hoá, nền kinh tế cũng đang trên đà phát triển mạnh, lòng người điên đảo, bị cuốn theo dòng xoáy vật chất, như con thiêu thân lao mình vào lửa đỏ tham ái, lòng dạ bất an, luôn thấp thỏm lo âu hồi hộp. Tất cả đều do: “Cái Ngã càng lớn thì nhu cầu càng nhiều, nhu cầu càng nhiều thì sợ hải càng nhiều.”(2)

 Để đáp ứng thoả mãn nhu cầu và bảo vệ nó, con người đã không ngại đem đến những cuộc chiến tranh tàn khốc, làm cho xã hội khủng hoảng, đạo đức suy vi, môi sinh môi trường bị tàn phá ô nhiễm…, mọi sự đau khổ cho mình và người đều bắt nguồn từ lòng tham lam vị kỷ, chỉ biết cái ta mà không hề nghĩ đến mọi người, mọi vật quanh ta.

Với những lý do đó, người viết chọn đề tài này với tâm nguyện sẽ làm một chút âm thanh nhỏ, góp phần vào tiếng nói Duyên sinh Vô Ngã, hy vọng mình và người đều được thức tỉnh mà vơi bớt khổ đau.

  1. Phạm Vi Đề Tài.

 Vô ngã là một đề tài khó, tuy nhiên, người viết cũng cố gắng hoàn thành tập tiểu luận này trong khuôn khổ sự hiểu biết quá hạn hẹp của mình. Với  vốn kiến thức nhỏ nhoi thô thiển, người viết mạnh dạng đặt chân vào thế giới Vô Ngã, đây là bước đột phá hết sức liều lĩnh. Mặc dù hết sức cố gắng nhưng với trình độ Phật học sơ cơ, người viết chỉ có thể trình bày những phần tóm yếu sau:

            Khái quát về Ngã.

            Đức phật căn cứ Duyên sinh để phủ nhận cái ta biệt lập, tồn tại.

            Do duyên sinh nên vô thườn, khổ, vô ngã.

            Mục tiêu giải thoát của hành giả học Phật.

            Giáo lý vô ngã đem lại hạnh phúc đích thực trong đời sống hiện tại.

  1. Nguồn Tư Liệu Và Phương Pháp Nghiên Cứu.

Như trên đã trình bày, đề tài nghiên cứu này nói về Vô Ngã. Người viết cố gắng hoàn thành trong phạm vi đã được học, dựa trên cơ sở đã có sẵn, người viết chỉ thêm một vài ý kiến nhỏ nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Vì vậy, những tư liệu sử dụng hầu hết là tài liệu đã thành văn. Những tác phẩm liên quan trực tiếp đến vấn đề Vô Ngã như:

            Kinh Tương Ưng, Trường Bộ, Trung Bộ… của HT. Thích Minh Châu dịch.

            Ngũ Uẩn Vô Ngã của HT. Thích Thiện Siêu.

            Kinh Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Thiện Siêu dịch.

            Kinh thủ lăng nghiêm, Tâm Minh dịch.

            Nghiên Cứu kinh Lăng Già, D.Tsuzuki, TT. Thích Chơn Thiện và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch….

Ngoài ra còn có các tác phẩm khác liên quan đến đề tài này.

Trong quá trình thực hiện luận văn, nhằm làm sáng tỏ đề tài, người viết vận dụng phương pháp phân tích, dẫn chứng và liên hệ, đồng thời vận dụng giáo lý Vô Ngã vào đời sống hiện tại, nhằm mang lại niềm hạnh phúc đích thực trong cuộc sống của nhân loại.

 

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM VỀ NGÃ.

1.1  Ngã Của Đời Thường.

gã là chủ tể, là cái Ta, cái Tôi, là bản Ngã nơi ta, nó được định hình bởi những tình cảm thương yêu, giận hờn, tật đố, tham lam, ích kỷ …. Chính do những tâm lý vị kỷ đó tạo nên sự phân biệt có Ta và người, lúc nào cũng muốn Ta hơn người về mọi phương diện, học thức, danh vọng, tài sản, sắc đẹp v.v …, để chiếm  hữu mọi thứ thuộc về Ta, bảo vệ cái Ta, của ta mà con người đã gây ra biết bao điều tội lỗi khổ đau cho chính mình và người khác. “Vì đó là cái ngã cố chấp, cái ngã đã có thành kiến sâu dày trong tâm tư của con người và vì nó mà phiền não tạo nghiệp.”(3) 

Một triết gia người Pháp, ông Blaire Pascal đã phát biểu như một định nghĩa: “Cái tôi (ngã) thì đáng ghét.” (Le moi est haissable).

Thật vậy, con người sẵn sàng đâm chém, giết hại cấu xé lẫn nhau cũng chỉ để thoả mãn cái ta đầy vị kỷ đáng ghét ấy. Bao cảnh tang thương đẫm lệ, dù là cha con, anh em, chồng vợ trong gia đình, họ đang sống hạnh phúc thương yêu nhau, nhưng một khi ai đó đụng đến cái ta thì mọi xung đột đều có thể xuất hiện. Một đứa con ngoan bổng nhiên nỗi loạn, chưởi cha, mắng mẹ hoặc bỏ nhà ra đi chỉ vì tát vào mặt nó trước đám đông, tức là đã xúc chạm cái ta của nó, vợ chồng đang sống hạnh phúc, đột nhiên đưa nhau ra toà ly dị, chỉ vì anh ấy, cô ấy nặng lời với tôi, không nghe theo ý kiến của tôi…, anh em ruột thịt lại tương tàn, tương sát lẫn nhau cũng do cha mẹ thương mi hơn ta, tài sản thừa kế không thuộc về ta v.v..., ngoài xã hội bà con láng giềng  không nhìn mặt nhau, vì hàng rào nhà anh lấn đất nhà tôi, thằng bé nhà mi dám đánh con ta…, rộng hơn nữa thì giữa quốc gia này với quốc gia khác luôn diễn ra bao cuộc chiến tranh khốc liệt, cửa nát nhà tan, máu chảy thành sông, thây phơi ngập núi, tất cả chỉ vì lòng tham không đáy của con người, muốn chiếm hữu giang san lãnh thổ…, những cái không phải của ta và cũng để giữ gìn cái mà ta đang có. Ôi! Nhân sinh là thế đó. Cũng để chứng tỏ Ta là trên hết nên dân gian Việt Nam thường nói:

“Ta về ta tắm ao ta,

Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn.”

Hay :

“Chồng em áo rách em thương,

Chồng người áo gấm xông hương mặc người.”

Và:

“Trâu ta ăn cỏ đồng ta,

Dù là cỏ cụt, nhưng là cỏ quê.”

 Có thể nói dân gian Việt Nam tự bao giờ đã có một cách dùng ngôn từ hết sức độc đáo, độc đáo ở chữ “Ta”, nó không còn cái nghĩa đơn thuần nữa, mà “Ta”, “Tôi”, là đại danh từ ngôi thứ nhất số ít, tiếng Anh dịch là “I” khác với “You” ngôi thứ hai có thể là số ít hoặc số nhiều. Như vậy, cho dù tôi là kẻ nghèo hèn (I’m  a poor) thì tôi vẫn là số một, là duy nhất, còn bạn dù là vua (You are the king) thì bạn vẫn chỉ là ngôi thứ hai và dĩ nhiên không phải là duy nhất.

Vì vậy, “Ao ta” dù là ao đục cũng vẫn là số một, “chồng em”, chồng của ta dù nghèo khó xấu xí vẫn hơn chồng của người, cỏ đồng của ta dù là cỏ cụt, nhưng là cỏ của quê ta v.v…. Một loạt bao phủ bởi cái “Ta” đầy vị kỷ. Đây là quan niệm muôn đời của nhân loại. Ta là trên hết, Ta bất khả xâm phạm.

         1.2   Ngã Theo Triết Học Ấn Độ.

Theo Ấn giáo chữ Ngã nguyên dịch từ chữ Àtman, nghĩa là hơi thở, là linh hồn bất diệt. Trong Chandogya Upanishad định nghĩa: “Cái ngã trong lòng ta nhỏ hơn hạt gạo, nhỏ hơn hạt mè, hạt cải, hạt kê. Cái lớn hơn trái đất, lớn hơn bầu khí quyển, lớn hơn cả bầu trời và tất cả thế gian.” Vậy cái ngã ấy vượt ra ngoài sự suy nghĩ luận bàn, và cái ngã bền vững chắc chắn “khí giới đâm không thủng, lửa đốt không cháy, nước không làm ướt, gió không làm khô, tự ngã bất biến (Nitya), nhuần khắp (Sarvagata), vững bền (Sthanu), bất di bất dịch (Acala), và hằng hữu (Snatana).”(4)

Từ thời R. gveda 1500 BC (Lê Câu Vệ Đà), cho đến thời đại Bràhmana 1000 – 800 BC  (Phạm Thư), người ta quan niệm hơi thở là chủ thể hoạt động của sinh mạng con người, cho nên họ xem hơi thở chính là Tự Ngã.

Đến thời Upanishad, 800 - 600 BC (Áo Nghĩa Thư) chia Ngã thành hai loại: Tiểu ngã (Àtman) và Đại ngã (Bràman). Họ cho rằng tiểu ngã tức là cái tự thể của mỗi cá nhân, cũng là sản phẩm của đại ngã. Còn đại ngã tức Bràman, là nguyên lý trường tồn không thay đổi, là trung tâm vũ trụ, tuyệt đối, Bràman không có hình tướng, nhưng được biểu hiện nhân cách hóa bằng một vị Thượng Đế tối cao, toàn năng toàn trí, sáng tạo tất cả vũ trụ vạn hữu

Lời tuyên bố của Upanishad: “tôi là Phạm thiên, là Bràhman hay” ngươi là “cái ấy”, là hình thái của sự đồng nhất hóa với cái Ngã. Triết học Ấn Độ có một câu bất hủ: “TAT TVAM ASI” nghĩa là cái đó là mày, chính là mày. Một tôn vị sư đã diễn ý đó qua câu chuyện sau:

 

“Đem lại cho ta một trái sung.

_ Thưa tôn sư, đây.

Bửa nó ra.

_ thưa tôn sư, con bửa rồi đây.

Con thấy gì?

_ thưa tôn sư, con thấy nhiều hột nhỏ.

Cắt một hột đi.

_ Thưa tôn sư, con cắt rồi đây.